Tỉnh Đắk Lắk đạt kết quả tích cực trong việc thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025

Trong giai đoạn 2021-2025, trên cơ sở quy định của trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh đã chỉ đạo toàn hệ thống chính trị cùng vào cuộc thực hiện, tinh thần quyết tâm và kịp thời khắc phục khó khăn vướng mắc; Nhờ vậy, chính sách giảm nghèo trên địa bàn tỉnh được triển khai thực hiện đồng bộ từ phê duyệt chủ trương; công tác xây dựng, tham mưu văn bản (Nghị quyết, Chương trình, Kế hoạch) đến việc triển khai thực hiện (dự án thành phần, tiểu dự án của Chương trình mục tiêu quốc gia đến các chính sách giảm nghèo) và huy động tối đa nguồn lực xã hội hóa trong công tác giảm nghèo, xóa nhà dột nát, nhà tạm.
Kết quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 10,09% (cuối năm 2021) xuống còn 5,08% (cuối năm 2024), tương đương giảm từ 76.688 hộ xuống còn 40.917 hộ (giảm 35.771 hộ); mức giảm bình quân 1,67%/năm. Phấn đấu năm 2025: Tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh từ 5,08% (gần 41 nghìn hộ nghèo) giảm xuống còn 2,08% (hơn 16 nghìn hộ), tương đương với 25 nghìn hộ thoát nghèo, giảm 3%/năm 2025 (đến nay vẫn còn đang tiếp tục rà soát lại, đánh giá, cập nhật kết quả sau các đợt thiên tai, bão lũ lụt lịch sử vừa qua).
Trong đó tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào Dân tộc thiểu số (DTTS) giảm từ 27,49% (cuối năm 2021) xuống còn 14,06% (cuối năm 2024) tương đương giảm từ 46.840 hộ xuống 27.079 hộ (giảm 19.761 hộ), mức giảm bình quân 4,47%/năm. Mục tiêu đến cuối 2025, giảm còn 10,06 % (13.590 hộ); tỷ lệ hộ nghèo trong đồng bào dân tộc thiểu số giảm 13.489 hộ ĐBDT TS thoát nghèo, mức giảm trên 4%/năm 2025.
Kết quả trên, cho thấy tỉnh Đắk Lắk đã đạt kết quả tích cực trong giảm nghèo bền vững cho đồng bào DTTS, chủ yếu nhờ chuyển đổi mô hình hỗ trợ từ dàn trải, manh mún sang hỗ trợ theo khả năng nhu cầu của hộ; tập trung vào hỗ trợ mô hình sinh kế cụ thể (hỗ trợ giống, kỹ thuật, liên kết tiêu thụ sản phẩm,…) và phát triển hạ tầng thiết yếu (đường, trường, trạm y tế), tạo nền tảng vững chắc hơn, giúp người dân thay đổi tư duy, phương thức sản xuất phù hợp, tự lực vươn lên, giảm tối đa tình trạng tái nghèo.
Trong quá trình triển khai công tác hỗ trợ sinh kế cho đồng bào DTTS, địa phương đã gặp những khó khăn, hạn chế và hướng giải quyết, khắc phục những khó khăn trong thời gian tới.

Ngoài những thuận lợi, kết quả đạt được, cũng phải thẳng thắn, nhìn nhận rằng, đối với công tác hỗ trợ sinh kế cho đồng bào DTTS gặp một số khó khăn, hạn chế nhất định, đó là:
Một là - Tỉnh Đắk Lắk có nhiều đồng bào DTTS cùng sinh sống (49 đồng bào DTTS), mỗi đồng bào có tập quán sản xuất, sinh hoạt khác nhau; trồng độ chăm sóc phù hợp với từng đối tượng cây trồng, vật nuôi khác nhau. Mà chủ yếu là các loại cây trồng vật nuôi ngắn ngày, có giá trị kinh tế thấp nên khó thoát nghèo;
Hai là - Tỉnh có nhiều xã đặc biệt khó khăn (66 xã khu vức III (là xã ĐBKK), và hơn 600 thôn, buôn ĐBKK)= hơn 27 nghìn hộ nghèo. Hầu hết sinh sống vùng sâu, xa, đi lại, giao thương khó khăn, đất đai ít màu mỡ; Một số nơi, phong tục, tập quán sản xuất còn lạc hậu, tư duy sản xuất nhỏ lẻ, bó hẹp, manh mún nên chưa có tính liên kết nhà, liên kết vùng,…;
Ba là - Một số hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ đồng bào DTTS khác còn có tình trạng trông chờ, ỷ lại vào các chính sách hỗ trợ của Nhà nước; ý chí vươn lên thoát nghèo chưa cao, “không muốn thoát nghèo”, Nhà nước hỗ trợ chính sách gì thì hưởng chính sách đó, trong khi giảm nghèo đa chiều yêu cầu sự chủ động và tham gia tích cực của người dân;
Bốn là - Các Mô hình/dự án hỗ trợ PTSX hỗ trợ thời gian qua tuy đã có hiệu quả nhất định nhưng còn nhiều hạn chế, như: chưa đa dạng, chủ yếu vẫn là trồng trọt, chăn nuôi, ngắn ngày có giá trị kinh tế thấp, nhỏ lẻ, chưa tập trung thành hàng hóa, sơ chế, chế biến; trong khi Đắk Lắk còn có nhiều lợi thế về cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế rất cao… để phát triển không những thoát nghèo mà còn làm giàu;
Năm là - Các dự án bố trí tái định cư cho đồng bào DTS tuy có nhiều quyết tâm nhưng vẫn còn chậm, một số dự án bố trí tái định cư cách xa nơi định canh (nơi sản xuất) hoặc thiếu đất sản xuất cho bà con nên cũng gây khó khăn.
Ngoài những khó khăn nêu trên, giai đoạn 2021-2025, tỉnh Đắk Lắk còn chịu ảnh hưởng nặng nề, nghiêm trọng, trực tiếp do dịch bệnh Covid 19; ảnh hưởng thiên tai, bão lũ, lụt, đặc biệt là thiên tai cuối năm 2025.
Định hướng, tham mưu đề xuất những giải pháp để thực hiện hiệu quả công tác hỗ trợ sinh kế, giúp đồng bào DTTS giảm nghèo bền vững trong thời gian tới.
- Chính phủ đã Quyết định ban hành Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026-2030, theo đó 03 Chương trình cũ nhập lại thành 01 ….
- Chính phủ đã Quyết định ban hành Chuẩn nghèo đa chiều giai đoạn 2026-2030.
Trên cơ sở chủ trương, chính sách của Chính phủ, hướng dẫn của các bộ, ban, ngành trung ương. Để hỗ trợ những hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo trong giai đoạn 2026-2030 thoát nghèo bền vững đạt chỉ tiêu kế hoạch đề ra, cần tập trung vào các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm như sau:
* Nhiệm vụ, giải pháp trước mắt
Tiếp tục tập trung khắc phục hậu quả do bão, lũ lụt: xây dựng, sửa chữa lại nhà ở cho người dân; hỗ trợ cây giống, con giống, vật tư nông nghiệp để nhanh chóng tái sản xuất; kịp thời khắc phục duy tu, bảo dưỡng công trình, trong đó ưu tiên công trình phục vụ sản xuất, dân sinh.
Khẩn trương hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo thông qua các mô hình, dự án phát triển sản xuất thuộc Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững đã được bố trí nguồn lực trong năm 2026 và huy động các nguồn lực xã hội hóa để cùng thực hiện.
* Nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2026-2030
Một là, tiếp tục đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về giảm nghèo.
Cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội phối hợp đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chủ trương của Đảng, chính sách của Nhà nước về giảm nghèo. Cùng với việc huy động nguồn lực xã hội và bố trí ngân sách hợp lý, địa phương đã chú trọng triển khai hiệu quả các chương trình an sinh xã hội, các đề án, dự án giảm nghèo bền vững.
Các hình thức tuyên truyền được đa dạng hóa, nhằm khơi dậy ý chí vươn lên của người dân. Đặc biệt, công tác truyền thông hướng mạnh về vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, giúp người dân hiểu rõ chính sách, khích lệ tinh thần tự lực vươn lên. Đồng thời, cầm khắc phục với tâm lý trông chờ, ỷ lại, muốn ở lại xã nghèo, hộ nghèo để hưởng chính sách hỗ trợ, qua đó khơi dậy khát vọng thoát nghèo của từng địa phương, từng hộ gia đình.
Hai là, tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giảm nghèo: Coi giảm nghèo là nhiệm vụ chính trị trọng tâm, thường xuyên.
Cấp ủy, chính quyền, đưa chỉ tiêu giảm nghèo vào nghị quyết, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phân công rõ trách nhiệm, cơ chế phối hợp giữa các ngành, các cấp, bảo đảm sự thống nhất từ tỉnh đến cấp xã; Chú trọng đổi mới phương thức lãnh đạo, chỉ đạo gắn với thực tiễn, tăng cường kiểm tra, khảo sát, nắm chắc tình hình đời sống hộ nghèo, cận nghèo để đưa ra giải pháp kịp thời; Chuyển từ hỗ trợ mang tính cấp phát sang hỗ trợ phát triển sinh kế, tạo việc làm, nâng cao năng lực tự thoát nghèo; Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, cơ sở dữ liệu số trong quản lý, theo dõi và đánh giá kết quả giảm nghèo.
Tiếp tục phát huy, lan tỏa sâu rộng phong trào thi đua “Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau” giai đoạn 2026-2030. Coi trọng sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, đặc biệt là vai trò của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể, cộng đồng dân cư, doanh nghiệp,…
Ba là, đảm bảo an sinh xã hội: Đặt mục tiêu tất cả hộ nghèo, cận nghèo và người dân ở vùng khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số được tiếp cận đầy đủ các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế, nhà ở, nước sạch, thông tin.
Bốn là, hỗ trợ tăng thu nhập, thoát nghèo bền vững: Thực trạng tại các xã, phường tỉnh Đắk Lắk hiện có tỷ hộ nghèo và cận nghèo còn cao hơn bình quân chung cả nước, trong đó nhiều hộ gặp khó khăn do thiếu đất sản xuất, thiếu vốn, thiếu lao động, công cụ sản xuất, kiến thức và kỹ năng lao động. Trước thực tế đó, địa phương tập trung triển khai đồng bộ nhiều giải pháp:
- Tập trung rà soát đất đai của công ty nông, lâm nghiệp và quỹ đất đã thu hồi từ nông, lâm trường giao cho địa phương, từ đó tập trung tối đa nguồn lực, đẩy nhanh tiến độ lập phương án sử dụng đất, rà soát nhu cầu, dành quỹ đất theo quy hoạch theo cấp xã sau sắp xếp để bố trí cho hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số có đất sản xuất.
- Đào tạo nghề gắn với việc làm: đào tạo nghề cho lao động nông thôn, trong đó tập trung cho người thuộc hộ nghèo, cận nghèo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động và doanh nghiệp địa phương.
- Hỗ trợ vay vốn phát triển sản xuất: Ngân hàng Chính sách xã hội, các Ngân hàng thương mại có cơ chế, tạo điều kiện hộ nghèo được tiếp cận vốn vay để đầu tư sản xuất, phát triển sinh kế.
Năm là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả thực hiện của các địa phương kịp thời nhằm bảo đảm hiểu quả, thực chất.

Những đề xuất, kiến nghị:
Để bảo đảm công tác giảm nghèo bền vững trong giai đoạn 2026-2030 trên địa bàn tỉnh Đăk Lắk, đề xuất kiến nghị như sau:
Một là - Thủ tướng Chính phủ, các Bộ, ngành trung ương xem xét, quyết định hỗ trợ kinh phí, đầu tư trang thiết bị,… đồng thời ban hành các chính sách hỗ trợ địa phương sớm khắc phục hậu quả thiên tai và phục hồi sản xuất, đặc biệt là người dân thuộc đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo.
Hai là - Các Ngân hàng Thương mại, Ngân hàng chính sách xã hội thống kê dư nợ, cơ cấu lại nợ để phù hợp với khả năng trả nợ của khách hàng thuộc các đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo,…; đồng thời xem xét miễn, giảm lãi suất, tăng suất cho vay mới để đầu tư khôi phục sản xuất.
Ba là - Các sở ngành, các địa phương cấp xã: Tăng cường và tập trung nguồn lực để hỗ trợ các dự án và giải ngân tối đa nguồn vốn thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững trong năm 2026 và giai đoạn 2026-2030 thuộc các đối tượng hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo,….
Bốn là - Yêu cầu UBND các xã, phường xây dựng kế hoạch chi tiết triển khai thực hiện công tác giảm nghèo của địa phương giai đoạn 2026-2030 và kế hoạch từng năm; UBND các xã, phường rà soát quỹ đất đã thu hồi của các công ty nông, lâm nghiệp để lập phương án sử dụng đất theo quy định; trong đó, dành quỹ đất để bố trí cho hộ nghèo, cận nghèo, đồng bào dân tộc thiểu số có đất sản xuất.
Năm là - Các sở, ngành, cơ quan, đơn vị liên quan của tỉnh, căn cứ chức năng, nhiệm vụ được giao liên quan đến công tác giảm nghèo, chủ động hướng dẫn các địa phương thực hiện các giải pháp nhằm hỗ trợ tăng thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội cho hộ nghèo, hộ cận nghèo và thành viên của hộ, nhất là hộ đồng bào dân tộc thiểu số. Phối hợp kiểm tra, giám sát, đánh giá công tác giảm nghèo tại địa phương, kịp thời hướng dẫn, giải đáp những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện.
Với những giải pháp đồng bộ nêu trên, giai đoạn 2026-2030 tỉnh Đắk Lắk quyết tâm không chỉ giảm nghèo mà còn tạo ra một hệ sinh thái phát triển bền vững, đảm bảo mọi người dân đều được hưởng thành quả của sự phát triển, thực hiện thắng lợi mục tiêu cao cả "Vì người nghèo - Không để ai bị bỏ lại phía sau".
Đức Thắng